14:37 ICT Thứ tư, 26/01/2022

Liên kết nhanh

Liên kết

THÔNG TIN TUYỂN SINH
web so 1QT
vnedu
Violet
trường học kết nối
SỞ GD&ĐT QUẢNG BINH
Chính phủ
Bộ giáo dục
Bo ngoai giao

Trang nhất » Tin Tức » Hoạt động chuyên môn

anh

anh

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1945-1975

Thứ hai - 12/10/2015 20:30
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM  
TRONG VĂN HỌC GIAI ĐOẠN 1945-1975
 
       Trong không khí của cuộc cách mạng sục sôi và dưới ánh sáng của lý tưởng mới, hơn bao giờ hết hình ảnh người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp mới. Vẻ đẹp của những con người đã được giải phóng hoàn toàn, tháo ra khỏi vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến, để hòa mình vào công cuộc chung của đất nước. Sau cách mạng, cũng là hình ảnh người con gái làm nhân vật trung tâm, nhưng không còn là những “người em sầu mộng” mà đó là những người con gái của cuộc đời mới, gánh vác việc chung không kém sức trai. Hình ảnh người thiếu nữ Việt Nam là hình tượng khá trọn vẹn và có tính chất lí tưởng: đó là những cô gái Trường Sơn bám chốt mở đường, cô nữ pháo thủ gan dạ, cô nữ sinh sông Hương hăng hái tham gia chiến đấu, nữ y sĩ lăn lộn giữa rừng để nghiên cứu căn bệnh sốt rét, cô gái đồng chiêm đảm đang cần mẫn… Tuy hoạt động trên nhiều tuyến đường khác nhau nhưng tất cả đều mang tinh thần của những cô gái Trường Sơn.
                     “Mười tám tuổi, em bắt đầu với con đường của Đảng,
        Đường đánh Mỹ, đường Bắc Nam xuyên qua những lèn cao đá phẳng!
Em đạp phăng mười bậc,
Em hạ dốc Ba Thang.
Em đi giữa thác lũ nắng ngàn
Em chấp cả bùn lầy vắt muỗi”…
                                             (Đường em làm, đường em đi)
 Thi nhân trân trọng và ngợi ca người phụ nữ của thời đại mới. Họ đến từ trong cuộc đời thực và đẹp như một ước mơ, một lí tưởng. Lưu Trọng Lư là một hồn thơ dễ rung động. Người thiếu nữ trong thơ ông đẹp lắm, không phải vẻ đẹp bề ngoài của đôi mắt bồ câu, nét mày thanh tú mà là vẻ đẹp rạng rỡ của một tâm hồn lạc quan, dũng cảm. Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, nhà thơ đã khắc họa người con gái làng quan họ thật đẹp:              “Có cô gái Đảng, giao thông viên
Trên đất này, thoăn thoắt bàn chân
Như chiếc thoi đưa, đường ngang chỉ dọ”
                                                                                    (Những dấu chân)
Càng đi sâu vào cuộc chiến, cái nhìn của Lưu Trọng Lư đối với những người thiếu nữ sâu sắc hơn. Lưu Trọng Lư thích thú khai thác nét chiến sĩ - thi sĩ trong tâm hồn chị em. Bên cạnh tinh thần lạc quan, dũng cảm là một tâm hồn giàu cảm xúc, dễ rung động trước vẻ đẹp của một cánh hoa, một sắc mây và cả những màu sắc lung linh của những vỏ hà vỏ hến. Trải qua bao khó khăn của cuộc chiến đấu, tâm hồn người phụ nữ vẫn giữ nguyên những nét rung cảm nhẹ nhàng ấy:
“Có chuyện gian khổ suối đèo
Có chuyện đau thương bom đạn
Nhưng mắt em vẫn giữ một màu xán lạn
Hến, hà em vẫn giữ sắc lung linh
Mà đường em làm, đường em đi sâu thẳm nghĩa tình.”
                                                                                     (Đường em làm, đường em đi)
 
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi tuyến lửa hàng ngày có biết bao câu chuyện bình dị mà rất cao đẹp, rất anh hùng. Người con gái sông Gianh kể về một câu chuyện như thế. Anh chiến sĩ hải quân trong một trận chiến đấu đã bị thương, được nữ quân dân chăm sóc. Trong cơn chập choạng mê tỉnh, khi tỉnh dậy thi cô đã đi rồi. Câu chuyện mà nhà thơ nghe được từ một chiến sĩ, có thực mà đượm chất lãng mạn, đẹp như trong cổ tích. Vốn nhạy cảm và tình nghĩa, nhà thơ đã dựng nên một bài thơ hay. Câu chuyện được kể qua tâm trạng nửa mơ nửa thực của người chiến sĩ bị thương nên hình ảnh cô gái hiện ra với vẻ đẹp vừa thực vừa hư ảo:
“Súng nhảy trên vai
Tóc vờn trước gió
Gà trong thôn đã gáy rồi
Lần thứ hai anh mở mắt
Vẫn thấy em ngồi
Vẫn bên giường súng gác”

       
Họ là những cô du kích gan dạ, dũng cảm mà giàu lòng yêu thương. Những người con gái ấy còn lấy cả thân mình bảo vệ sự bình yên cho những con tàu:
“Em lấy tuổi xuân xanh
Em lấy cả thân mình
Phủ lên thân tàu yêu dấu”
“Em là du kích, em là giao liên
Em chính là quê hương ta đó
Mười một năm rồi ta nhớ, ta thương
Đêm đầu tiên ta ngủ giữa quê hương
Sao thấy lòng ấm lạ
Dù ngoài trời tầm tã mưa tuôn
Tiếng đại bác gầm rang vách lá
Ôi quê hương ta đẹp quá
Dù trên đường còn những hố bom
Dù áo em vẫn còn mảnh vá
Chỉ có trái tim chung thủy, sắt son
Và khẩu súng trong tay cháy bỏng căm hờn”.
(Trở về quê nội – Lê Anh Xuân)
            Khi đất nước chìm trong nô lệ đau thương, người phụ nữ cũng cùng chịu chung số phận khổ đau. Đất nước vùng lên đấu tranh, họ không kém phần quả cảm, cùng xông pha trên cả hai mặt trận: tiền tuyến và hậu phương. Hình ảnh đẹp đẽ, tràn đầy sức sống và dũng khí của những nữ anh hùng đó đã được nhà thơ Tố Hữu khắc họa thành công trong các sáng tác của mình. Đó là những người mẹ một đời lam lũ nhưng kiên cường, cống hiến hết sức lực còn lại cho cách mạng, đó là những người con gái dũng cảm, dám hi sinh thân mình cho Tổ quốc... và rất nhiều, rất nhiều những tấm gương khác mà ta có thể tìm thấy trong thơ Tố Hữu.

                                         

Ngay từ những sáng tác đầu tay, Tố Hữu đã có cái nhìn đúng đắn về vai trò của quần chúng đối với sự nghiệp cách mạng. Đặc biệt, trong những năm tháng hoạt động kháng chiến, ông được sống gần nhân dân, được các mẹ, các chị chở che, đùm bọc. Điều này, giúp ông cảm nhận chân thực nhất tình cảm mãnh liệt của họ dành cho đất nước. Thi hứng của ông thường được bắt nguồn từ chính những tấm gương trong hiện thực của cuộc chiến đấu gian khổ. Một hình ảnh đã được Tố Hữu nâng lên thành biểu tượng bất khuất về người phụ nữ Việt Nam, đó là Mẹ Suốt, người mẹ chèo đò trên sông Nhật Lệ:
“Một tay lái chiếc đò ngang
Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày
Sợ chi sóng nước tàu bay
Tây kia ta đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!
Kể chi tuổi tác già nua
Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng”
(Mẹ Suốt)
Lời bộc bạch giản dị, chân tình của mẹ đã khiến bao thế hệ cảm phục và xúc động:
“Gan chi, gan rứa, mẹ nờ
Mẹ rằng: Cứu nước, mình chờ chi ai?
Chẳng bằng con gái, con trai
Sáu mươi còn một chút tài đò đưa
Tàu bay hắn bắn sớm trưa
Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò...”
                                                                                                  ( Mẹ suốt)
      Dường như với mẹ, việc chèo đò đưa quân, việc cách mạng là một lẽ thường tình. Hình ảnh mẹ Một tay lái chiếc đò ngang đã trở thành “nguồn sức mạnh cổ vũ động viên hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ ta vững tay súng ở chiến trường đánh Mỹ” (Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước, NXB Phụ nữ, 2007). Sẽ còn mãi trong tâm trí mọi người dân đất Việt bức tượng đài của mẹ, một người phụ nữ hiên ngang, bất khuất:
“Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung
Gió lay như sóng biển tung trắng bờ”
(Mẹ Suốt)
Có thể thấy, thơ Tố Hữu luôn dành tiếng nói yêu thương, lòng trân trọng và tình cảm xúc động, thành kính khi viết về những người mẹ. Đó là những bà Bủ, bà Bầm, là “bà mẹ Việt Bắc”, những người tưởng chừng cả đời chỉ biết gắn bó với cây rau rừng, với củ mài, củ sắn không biết đến đấu tranh, đến chính trị nhưng bằng tình cảm yêu quê hương, đất nước của một người con đất Việt, họ đã ý thức được trách nhiệm với cuộc kháng chiến của dân tộc. Có người không trực tiếp tham gia chiến đấu nhưng đã hy sinh chồng và hai con trai mình cho đất nước, đó là một sự hy sinh thầm lặng và cao cả.
     Hình ảnh “bà má Hậu Giang”, người má kiên trung nuôi giấu cán bộ, bất chấp hiểm nguy một mình bám trụ với mảnh đất chết, “lom khom đi lượm củi khô” nấu cơm cho Việt minh... đã khắc sâu trong tâm trí của người đọc. Trong kháng chiến, những người chiến sĩ cộng sản đã không thể cầm được nước mắt trước lời nhắn nhủ của má:
“Má già nhắm mắt rưng rưng:
Các con ơi! Ở trong rừng U Minh
Má có chết một mình má chết
Cho các con trừ hết quân Tây”!
(Bà má Hậu Giang)
Nếu như mẹ Suốt “Sáu mươi còn một chút tài đò đưa”, bà má Hậu Giang nuôi quân kiên cường, bất khuất đã trở thành biểu tượng về những người mẹ anh hùng thì chị Trần Thị Lý, người con gái Việt Nam bị giặc bắt, tra tấn, tù đày dã man mà vẫn hiên ngang, anh hùng là một hình ảnh đẹp, tràn đầy sức sống và dũng khí:
“Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi
Mái tóc em đây hay là mây là suối
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông
Thịt da em hay là sắt là đồng » ?
(Người con gái Việt Nam)
Một loạt những câu hỏi tu từ được tác giả sử dụng để khẳng định một điều: Chị là một người con gái Việt Nam anh hùng. Chị đẹp, một vẻ đẹp kiên cường, bất khuất. Dù tra tấn chị dã man nhưng kẻ địch vẫn không thể “giết được em, người con gái anh hùng”. Chị vừa là người góp phần làm nên đất nước, vừa là người con của đất nước, người con bé nhỏ được ôm ấp vỗ về bởi bà mẹ quê hương. Hình ảnh chị cao cả mà giản dị, lớn lao nhưng cũng rất đỗi đời thường, chị giống như bao người phụ nữ Việt Nam yêu nước:
“Em đã sống bởi vì em đã thắng
Em sẽ đứng trên đôi chân tuổi trẻ
Đôi gót đỏ lại trở về quê mẹ
Em sẽ đi trên đường ấy thênh thang
Như những ngày xưa rực rỡ sao vàng.”
(Người con gái Việt Nam)
          Hình ảnh người phụ nữ trong thơ Tố Hữu đã trở thành những biểu tượng chung cho phụ nữ Việt Nam. Họ đã sống và cống hiến hết mình cho đất nước, cho dân tộc. Với họ, việc tham gia kháng chiến, tham gia cách mạng là một lẽ thường tình, một điều tất yếu. Đây, lời tâm sự của người con gái làm công việc “phá đường”:
« Em là con gái Bắc Giang
Rét thì mặc rét nước làng em lo.
Nhà em phơi lúa chưa khô
Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong
Nhà em con bế con bồng
Em cũng theo chồng đi phá đường quan”.
(Phá đường)


        Những lời kể hết sức hồn nhiên của cô bao hàm trong đó một niềm tự hào lớn lao. Nếu như cô gái thay chồng đắp đê trong bài “Tiếng hát trên đê” làm việc trong đau khổ, tủi nhục, căm hận thì cô gái “Phá đường” lại làm việc trong hăng say, trong niềm vui được cống hiến cho đất nước. Người đọc cảm nhận rõ được sự khác biệt giữa cuộc sống của người phụ nữ trong nô lệ và trong chiến đấu. Chiến tranh là khốc liệt. Những người phụ nữ ấy, bằng tình yêu sâu nặng đối với quê hương, đất nước đã coi công việc đào đường gian khổ như tham gia một cuộc thi hết sức vui vẻ:
“Hì hà hì hục
Lục cục lào cào
Anh cuốc em đào
Đá lở đất nhào!
Nào anh bên trai
Nào em bên nữ
Ta thi nhau thử
Ai nào hơn ai!
Anh tài thì em cũng tài
Đường dài ta sẻ, sức dai ngại gì”.
(Phá đường)
Chính từ những tấm gương như thế, cuộc chiến đấu của dân tộc ta đã giành được thắng lợi vẻ vang. Các mẹ, các chị, những người phụ nữ anh hùng đã cống hiến toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp kháng chiến của cách mạng sẽ mãi mãi in dấu trong “hình của nước”. Tất cả đều hiện lên đẹp đẽ bởi mang trong mình hồn thiêng của sông nước. Khác với Nguyễn Du đã từng treo lơ lửng một câu hỏi lớn: “Đau đớn thay phận đàn bà / Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?”. Nay, là người đại diện cho dân tộc, nhà thơ Huy Cận trong bài thơ “Ca ngợi người phụ nữ Việt Nam” (1966) viết: “Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử/ Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ”. Nhà thơ như hóa thân vào người phụ nữ để tự hào mà nhủ thầm rằng: trong cuộc sống hôm nay, người phụ nữ là một phần của lịch sử, họ tạo nắng cho nhân gian và tạo nắng cho thơ - nghĩa là họ làm đẹp cho cuộc đời, họ cũng là cảm hứng của thi sĩ...
Có ai đó nói rằng: “Người phụ nữ là một nửa thế giới”. Và quả thật, họ đã đi vào những trang viết chảy suốt trong văn học từ trước đến nay, để rồi không chỉ làm nên một nửa, mà là trọn vẹn tấm hình trong sâu thẳm tâm hồn thế hệ người đọc hôm nay và cả mai sau. Vẻ đẹp hình thể và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam ngày nay đã được nâng lên một bước phù hợp với thời đại trong xu thế hội nhập toàn cầu, nhưng vẫn giữ được tính dân tộc đậm đà. Họ vẫn phát huy vẻ đẹp của một thời anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang và còn mang vẻ đẹp về trí tuệ.
 Họ không còn là những người đẹp trong cung cấm xưa để điểm tô cho ngai vàng phong kiến. Họ đang viết tiếp trang sử oanh liệt của Bà Trưng, Bà Triệu dưới thời đại mới, và họ có mặt khắp nơi trên mọi nẻo đường của tổ quốc. Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam in dấu ấn trong thơ ca, nhạc, họa, điêu khắc… và mãi bất tử với thời gian. Họ đã góp phần làm nên vẻ đẹp của văn hoá dân tộc.  Chúng ta hãy cùng chia sớt nỗi đau của các mẹ, các chị trong quá khứ, và cùng vui, cùng tự hào với những gì mà các mẹ, các chị đã góp phần làm nên vẻ đẹp của phụ nữ trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

Tác giả bài viết: Trần Thị Lệ Nga-Sưu tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 42 trong 9 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thư viện ảnh

  • Tên hình ảnh 3
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 6
  • Tên hình ảnh 5
  • Tên hình ảnh 4
  • Tên hình ảnh 3
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 3
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 10
  • Tên hình ảnh 9
  • Tên hình ảnh 8
  • Tên hình ảnh 7
  • Tên hình ảnh 6
  • Tên hình ảnh 5
  • Tên hình ảnh 4
  • Tên hình ảnh 3
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 5
  • Tên hình ảnh 4
  • Tên hình ảnh 3
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 5
  • Tên hình ảnh 4
  • Tên hình ảnh 3
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 23
  • Tên hình ảnh 22
  • Tên hình ảnh 19
  • Tên hình ảnh 18
  • Tên hình ảnh 17
  • Tên hình ảnh 16
  • Tên hình ảnh 15
  • Tên hình ảnh 14
  • Tên hình ảnh 13
  • Tên hình ảnh 11
  • Tên hình ảnh 8
  • Tên hình ảnh 9
  • Tên hình ảnh 7
  • Tên hình ảnh 5
  • Tên hình ảnh 4
  • Tên hình ảnh 3
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 12
  • Tên hình ảnh 11
  • Tên hình ảnh 10
  • Tên hình ảnh 9
  • Tên hình ảnh 8
  • Tên hình ảnh 7
  • Tên hình ảnh 6
  • Tên hình ảnh 5
  • Tên hình ảnh 4
  • Tên hình ảnh 3
  • Tên hình ảnh 2
  • Tên hình ảnh 1
  • Tên hình ảnh 1
Bản quyền thuộc về Trường trung học phổ thông Lê Lợi - Quảng Bình
Điện thoại: 05223 585 917
Designed by Trần Trung - Email: trantrungisk5@gmail.com